Trà dây là một trong số ít dược liệu dân gian Việt Nam đã được nghiên cứu khá kỹ về thành phần hóa học từ những năm 1990. Bài viết tổng hợp các thành phần chính đã được ghi nhận trong dược liệu này.
Nhóm flavonoid
Thành phần được nghiên cứu nhiều nhất trong Trà dây là nhóm flavonoid, chiếm tỷ lệ khá cao trong lá, khoảng 18,15% trọng lượng theo nghiên cứu năm 1995. Trong đó, myricetin là flavonoid chiếm hàm lượng lớn nhất, khoảng 5,32%. Myricetin và một số flavonoid liên quan trong nhóm này thường được ghi nhận có hoạt tính chống viêm, chống oxy hóa trong các nghiên cứu dược lý.
Tanin và các thành phần khác
Trà dây chứa tanin thuộc loại catechic, với hàm lượng khoảng 10,82-13,30%. Tanin có đặc tính làm se, được cho là góp phần vào tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày của dược liệu này. Ngoài ra, lá Trà dây còn chứa hai loại đường là glucose và rhamnose.
Đặc điểm an toàn về mặt hóa học
Một điểm đáng chú ý từ kết quả phân tích thành phần hóa học là Trà dây không chứa các nhóm chất có khả năng gây độc thường gặp ở một số dược liệu khác như alcaloid hay saponin. Đây là cơ sở khoa học cho nhận định về tính an toàn tương đối của Trà dây khi dùng đúng liều lượng khuyến nghị, phù hợp để sử dụng lâu dài như một loại trà hỗ trợ sức khỏe hằng ngày.
Liên hệ giữa thành phần và công dụng
Các nghiên cứu dược lý cho thấy nhóm flavonoid và tanin trong Trà dây có liên quan đến khả năng trung hòa acid dịch vị, ức chế bài tiết dịch vị và hỗ trợ làm sạch vi khuẩn Helicobacter pylori. Tuy nhiên, hàm lượng các hoạt chất này có thể thay đổi tùy theo vùng trồng, thời điểm thu hái và phương pháp sơ chế, nên chất lượng dược liệu giữa các nguồn cung cấp khác nhau có thể không đồng đều.
So sánh với các dược liệu chứa flavonoid khác
So với nhiều dược liệu khác cũng chứa flavonoid như trà xanh hay nụ vối, Trà dây có điểm đặc biệt là hàm lượng flavonoid tập trung khá cao trong lá và đã được định lượng cụ thể qua nghiên cứu khoa học trong nước, thay vì chỉ dựa trên ước lượng chung chung. Điều này giúp các nhà nghiên cứu và người dùng có cơ sở tham khảo rõ ràng hơn khi đánh giá chất lượng dược liệu giữa các lô hàng khác nhau.

